Thứ bảy, ngày 10 tháng mười hai năm 2011

MỘT CHUYỆN CÓ THẬT


Một chiếc xe bus chở đầy khách đang chạy trên đường đồi.
Giữa đường, ba thằng du côn có vũ khí để mắt tới cô lái xe xinh đẹp. Chúng bắt cô dừng xe và muốn “vui vẻ” với cô.
Tất nhiên là cô lái xe kêu cứu, nhưng tất cả hành khách trên xe chỉ đáp lại bằng sự im lặng.
Lúc ấy một người đàn ông trung niên nom yếu ớt tiến lên yêu cầu ba tên du côn dừng tay; nhưng ông đã bị chúng đánh đập. Ông rất giận dữ và lớn tiếng kêu gọi các hành khách khác ngăn hành động man rợ kia lại nhưng chẳng ai hưởng ứng. Và cô lái xe bị ba tên côn đồ lôi vào bụi rậm bên đường.

Một giờ sau, ba tên du côn và cô lái xe tơi tả trở về xe và cô sẵn sàng cầm lái tiếp tục lên đường…
“Này ông kia, ông xuống xe đi!” cô lái xe la lên với người đàn ông vừa tìm cách giúp mình.
Người đàn ông sững sờ, nói:
“Cô làm sao thế? Tôi mới vừa tìm cách cứu cô, tôi làm thế là sai à?”
“Cứu tôi ư? Ông đã làm gì để cứu tôi chứ?”
Cô lái xe vặn lại, và vài hành khách bình thản cười.
Người đàn ông thật sự tức giận. Dù ông đã không có khả năng cứu cô, nhưng ông không nên bị đối xử như thế. Ông từ chối xuống xe, và nói: “Tôi đã trả tiền đi xe nên tôi có quyền ở lại xe.”
Cô lái xe nhăn mặt nói: “Nếu ông không xuống, xe sẽ không chạy.”
Điều bất ngờ là hành khách, vốn lờ lảng hành động man rợ mới đây của bọn du côn, bỗng nhao nhao đồng lòng yêu cầu người đàn ông xuống xe, họ nói:
“Ông ra khỏi xe đi, chúng tôi có nhiều công chuyện đang chờ và không thể trì hoãn thêm chút nào nữa!”
Một vài hành khách khỏe hơn tìm cách lôi người đàn ông xuống xe.
Ba tên du côn mỉm cười với nhau một cách ranh mãnh và bình luận: “Chắc tụi mình đã phục vụ cô nàng ra trò đấy nhỉ!”
Sau nhiều lời qua tiếng lại, hành lý của người đàn ông bị ném qua cửa sổ và ông bị đẩy ra khỏi xe.
Chiếc xe bus lại khởi tiếp hành trình. Cô lái xe vuốt lại tóc tai và vặn radio lên hết cỡ.
Xe lên đến đỉnh đồi và ngoặt một cái chuẩn bị xuống đồi. Phía tay phải xe là một vực thẳm sâu hun hút.
Tốc độ của xe bus tăng dần. Gương mặt cô lái xe bình thản, hai bàn tay giữ chặt vô lăng. Nước mắt trào ra trong hai mắt cô.
Một tên du côn nhận thấy có gì không ổn, hắn nói với cô lái xe:
“Chạy chậm thôi, cô định làm gì thế hả?”
The driver said nothing, but the bus traveled faster and faster.
Tên du côn tìm cách giằng lấy vô lăng, nhưng chiếc xe bus lao ra ngoài vực như mũi tên bật khỏi cây cung.
Hôm sau, báo địa phương loan tin một tai nạn bi thảm xảy ra ở vùng “Phục Hổ Sơn”.
Một chiếc xe chở hành khách rơi xuống vực, tài xế và 13 hành khách đều thiệt mạng.
Người đàn ông đã bị đuổi xuống xe đọc tờ báo và khóc. Không ai biết ông khóc cái gì và vì sao mà khóc!
Bạn có biết vì sao ông ta khóc?
Nếu bạn có trên xe bus, bạn có đứng lên như người đàn ông kia?
Chúng ta cần những người như ông để tạo nên và duy trì một xã hội bình thường!
Khi ta đối xử với người khác bằng cả tấm lòng, ta sẽ nhận được hơi ấm và tình yêu từ mọi người!
Đây là một câu chuyện rất bi thảm. Bạn sẽ làm gì nếu như bạn là người lái xe?

(Trích từ blogger Trần Đăng Khoa)

Quảng Bình năm 1973

 

Cụ Nguyễn Xuân Liên, người làm ra Vực Quành đang ở Hà Nội xạ trị nhắn tin: Vào Cu Làng Cát sáng nay thấy hình ảnh Hà Nội 1973 qua ảnh. Mình tặng Cu serie ảnh Quảng Bình đầu năm 1973 (ảnh độc đấy vì không có trên mạng đâu).  Các ảnh này được scane từ cuốn sách ảnh nhân dân Nhật Bản tặng nhân dân Việt Nam, do các phóng viên chiến trường Nhật Bản chụp vào đầu năm 1973 tại Quảng Bình.
Thiệt tình cảm ơn cụ Liên. Một bộ ảnh rất quý, mời bà con.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Quảng Bình năm 1973


Bom đạn được sử dụng làm nền cho khẩu hiệu chiến thắng

Hình ảnh của năm 1973 được nói chụp ở Quảng Sơn
 Phóng viên Nhật Bản chú thích: Những chị em phụ nữ của hợp tác xã nông nghiệp thôn Lộc Ninh đang chia cá. Kể cả lúc còn chiến tranh phá hoại, họ đã tổ chức đội ngư dân xung phong ra khơi vào ban đêm kể cả giữa khi Mỹ ném bom.
Con cu thấy: Mấy o hổng có đôi dép nào tội nghiệp quá à. Chân trần lội cát.
Một góc hợp tác xã làm mắm trên cát, Quảng Bình
Phóng viên Nhựt Bản chú thích: Bom cỡ lớn không nổ được biến thành cột cổng vào làng, vừa là trang trí đặc biệt vừa là nơi trẻ em vui chơi trò đánh Mỹ

Người Nhựt chú thích: Hố bom lớn biến thành ao, thành nơi thả cá, chăn vịt, trẻ em vui đùa, tắm rửa với đàn trâu.
Một cửa hàng tạp hoá ở Quảng Bình 1973
Hải sản Quảng Bình năm 1973

Phóng viên Nhựt chú thích: Nhà làm nửa nổi nửa chìm trên mặt đất, xung quanh có đắp tường đất dầy bao bọc
Người ta chú thích rằng: Phòng ngủ, nơi ăn uống thì ở trong nhà làm nửa chìm nửa nổi. bếp, chuồng nuôi gia súc, nhà vệ sinh thì ở bên ngoài.
Phóng viên Nhật chú thích: Trung đội phụ nữ bảo vệ đường. Các chị tuổi từ 26 đến 36 đều có con nhỏ. Quảng Bình là nơi có đường số 1 chạy qua, thường xuyên bị ném bom ác liệt. Các chị vừa nuôi em nhỏ vừa xông pha trong lửa đạn bảo đảm giao thông.

Chị em Quảng Bình 1973

Nếu phóng viên Nhật không chú thích thì không biết là cái gì, họ chú thích: "Xưởng sửa chữa xe vận tải làm nửa chìm nửa nổi. Trong lòng đất có hầm để máy móc, phụ tùng, có phòng ngủ ăn thông nhau bằng nhưng giao thông hào chẳng chịt ở Quảng Bình.
Nguồn ảnh: Do cụ Nguyễn Xuân Liên gửi qua email.
(trích từ blgger: Cu làng cát)

Mãi lộ… tháng


     Không biết mình làm cái nghề đi lại nhiều, không có phương tiện ô tô cá nhân nên toàn nhảy xe “tốc hành” chính vì thế nên thường quen nhiều cách lái xe đường dài. Hôm nghe tin có địa phương nào đó, đúng rồi TP Hồ Chí Minh quy định CSGT đi làm nhiệm vụ không được mang quá 100 ngàn đồng, nhiều lái xe cười ra nước mắt, họ bảo, cho dù cấm không mang đồng nào cũng không “quét” được hết chuyện mãi lộ.
    Cái gì cùng có hai phía, để hình thành cái gọi là mãi lộ thì phải có người đưa người nhận. Người đưa cũng tính hơn thua, tính giá trị lợi ích kinh tế. Làm luật thế này còn rẻ hơn đường đường chính chính nộp phạt. Chưa thấy lái xe nào đòi CSGT nộp phạt, mà toàn “chạy theo” xin lót tay tha nộp phạt. Còn về phía người nhận cũng là trường hợp bất đắc dĩ, muốn cầm gậy hay nói rộng hơn muốn vô chổ công quyền ngoài “năng lực” con ông cháu cha thì phải có nhiều tiền để chạy. Không có tiền phải thế chấp tài sản để vay ngân hàng. Số tiền chạy có người tính bét thì sáu năm mà không thì 10 năm nhịn ăn nhịn mặc mới trả hết nợ. Xét tuyển viên chức, thi công chức chỉ là hình thức, không có đồng tiền đi trước sao trúng tuyển được?. Vào ngành mà không làm thế thì sao đủ tiền trang trải tiền lãi vay ngân hàng được. Không mãi lộ sao được???.
     Anh bạn lái xe khách đường dài cho biết, tui đây có khi mô xuống xe làm luật đâu. Thi thoảng dừng ở điểm kiểm tra đưa cho mấy chú CSGT tờ báo Bóng Đá hay gói ba số. Thế sao xe anh vi phạm họ không kiểm tra mà vẫn cho đi. Anh lái xe cười, đóng mãi lộ theo tháng rồi (một ngày bao nhiêu cứ rứa nhân lên, một tháng đưa một cục).
-         Xe nào cũng thế à?. Tôi hỏi
-         Chứ sao, không đưa có mà chết à- Anh bạn lái xe trả lời
     Anh lái xe còn nói, hiện nay nhiều tổ chức làm theo phương án đó lắm. Các doanh nhiệp vận tải, các nhà thầu có đội xe hoạt động liện tục đều đóng “vé tháng” cho các bác CSGT. Chứ kiếm 50, 100 ngàn là chỉ dành cho khách vãng lai thôi!
Khó hè… bao giờ mới dẹp được mấy từ mãi lộ đường bộ
Người Ba Đồn


 

Thứ sáu, ngày 09 tháng mười hai năm 2011

Quán rượu chị Phước

Quán rượu chị Phước

(NBD) Sống ở Huế nhiều năm, cảm nhận những quán rượu xiêu xiêu trong cơn mưa Huế tầm tả, dai dẳng. Cũng nhậu thâu đêm với bạn văn, bạn báo đất Huế. Nhưng vẫn rưng rựng khi đọc "Quán rượu chị Phước" của bọ Lập. Xin bọ cho đem bài này về nhà để khoe với bạn bè nhân dịp khai trương nhà mới....

Hè vừa rồi mình  về Huế chơi, tìm về  góc phố có quán rượu chị Phước, góc đường Trương Định, cạnh quán xôi thịt hoong. Quán xôi thịt hoong vẫn còn, vẫn y chang như ngày nào, lụp xụp nhếch nhác nhưng rất đông khách. Quán rượu chị Phước không còn nữa, hình như người ta đã dẹp các quán vỉa hè, dẹp luôn quán chị. Mình đứng tựa gốc cây hồi lâu, tự nhiên thấy bồi hồi. Bao nhiêu bạn bè của mình đã từng ngồi đây giờ đâu hết rồi?
 Một cái quán che bằng tấm áo mưa cũ, chống ba bốn cọc tre nhỏ, cái thùng gỗ đựng rượu  nem thuốc lá,  chỉ ba thứ ấy thôi, không có hề có thêm thứ khác, năm sáu cái đòn ngồi cái méo xệch, cái gãy chân… Thế mà không khi nào vắng  các nhân vật nổi tiếng, từ Trịnh Công Sơn đến Nguyễn Khoa Điềm, từ Xuân Đàm, Kim Quý, Lê Anh… đến Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Minh, Nguyễn Trọng Tạo….Từ đó anh tài khắp nước lần lượt vào quán này, đủ hết không sót một ai.
 Những năm 80 thế kỷ trước, anh em văn nghệ Huế mỗi khi rủ nhau đi uống rượu thường chỉ đến hai nơi, một là quán chị Hiếu, hai là quán chị Phước. Quán chị Hiếu rượu ngon, chị tự  nấu lấy, rượu gạo trăm phần trăm, đối với anh em văn nghệ chị bán giá gốc rất rẻ. Nhưng quán chị Hiếu hơi xa, ở tận dốc Phú Cam, hơi trái đường nên anh em vẫn tụ bạ ở quán chị Phước, sát ngay 26 Lê Lợi là trụ sở Hội văn nghệ. Nhà mình gần ngay đấy, ở 24 Lê Lợi, thành thử mình thường trú nửa phần đời tại quán chị Phước.
Chẳng biết chị Phước mấy tuổi, ở đâu. Nghe nói chị vốn dân Quảng Nam ra đây làm ăn, người bảo có chồng con, người bảo không. Lại có người nói chị là vợ ông Đại úy cộng hòa. Năm 1980, ông này vượt biên sang Mỹ, chị không đi, ở lại nuôi con. Chẳng biết thế nào nhưng nhìn tướng chị  mình biết chị có học hành tử tế, con nhà dòng dõi, thế cuộc đổi thay chị mới chịu ra vỉa hè bán rượu mà thôi.
Rượu chị Phước thua rượu chị Hiếu nhưng chị cho nợ thoải mái, chẳng ghi sổ, chẳng hỏi nợ, ai nhớ thì trả, không thì thôi, chẳng bao giờ chị càm ràm. Ngồi ở quán chị nói năng thoải mái, không sợ chị nghe được đi kể lại với người khác. Anh em cãi nhau, chửi nhau, nói xấu nhau… chị đều bỏ ngoài tai hết, không hề để bụng. Ngồi ở quán chị như ngồi nhà mình, chỉ có ba thứ:  rượu, thuốc lá và nem, ai muốn lấy gì thì lấy. Nhiều lần bận việc chị thả quán cho khách tự tung tự tác. Uống xong, có tiền nhét tiền dưới cục gạch chị đã làm dấu, không tiền thì cứ thế phủi đít về, chẳng sao.
 Ngồi nhiều nhất, lâu nhất vẫn là đám nhà thơ. Buổi sáng đến công sở, uống trà nói phét chừng một tiếng, vờ vào bàn làm việc chừng một tiếng, đến 10 giờ chẳng ai bảo ai đều viện cớ đi chỗ này chỗ nọ, gặp người này người nọ, rồi vọt ra quán chị Phước cả lũ.
Vài ba chén đầu còn tâm sự  hỏi han, đến chén thứ tư bắt đầu màn đọc thơ. Nếu thơ được khen tất nhiên còn đọc nữa, tranh nhau đọc cho tới chiều. Nhưng nếu ai đó chê thơ ai đó thì thể nào cũng có cãi nhau, có rượu vào chuyện bé xé ra to, văng đủ thứ, thề độc không bao giờ nhìn mặt nhau, tóm lại sáng sau lại có mặt cả lũ, không sót một ai, hi hi.
Một hôm mình ngồi với anh Tạo ( Nguyễn Trọng Tạo), anh Ngô Minh. Anh Tạo nói tình hình nghiện đọc thơ đã trở thành quốc nạn. Khéo không chị Phước nghe đọc thơ nhiều quá, điên lên chị nhổ quán bỏ đi thì bỏ mẹ. Từ nay thằng nào đọc thơ phải “ nôn”  tiền ra gọi là nhuận nghe. Không ai tốn rượu mất thời giờ nghe thơ chúng mày. Vừa nói xong thì Lý Hoài Xuân lò dò tới, nói tôi  mới có bài thơ, đọc cho anh em nghe. Anh Tạo nói vừa ra nghị quyết rồi, thằng nào muốn đọc thơ phải bỏ tiền ra, mỗi bài ba ngàn. Lý Hoài Xuân lẳng lặng móc túi bỏ ra ba ngàn. Đọc xong, ai cũng khen, Lý Hoài Xuân lại lẳng lặng móc túi bỏ ra sáu ngàn. Nói tôi đọc thêm hai bài nữa. Hi hi.
Anh  Phùng Quán vào Huế ngày trước ngày sau đã biến quán chị Phước thành “ cơ quan thường trú” của anh. Anh Quán ngồi đâu ở đó có thơ. Anh đọc thơ không tiếc tiền, mỗi bài ba ngàn, anh đọc cả trăm bài trong mấy tháng anh ở lại Huế. Thực ra anh lấy cớ để ủng hộ chị Phước. Anh nói tụi mình uống chịu nhiều rứa, cụt vốn chị Phước, tội nghiệp. Bày ra cái luật nhuận nghe  rất chi là hay, tụi mình có rượu uống mà chị Phước không bị cụt vốn. Có hôm xong cuộc uống rượu đọc thơ, cộng lại được 90 ngàn, còn thiếu của chị Phước 6 ngàn, anh Quán xung phong đọc thêm hai bài. Phải cái bài Trăng hoàng cung của anh dài quá, mọi người nhao nhao, nói bài ni dài bằng 6 bài. Anh vuốt râu cười kha kha kha, nói sáu bài thì sáu bài, rồi bỏ ra đúng 30 chục ngàn. Lại thừa tiền, lại uống, rất vui.
Chị Phước ít nói đến nỗi ai không quen cứ tưởng chị bị câm. Ai cũng như ai, hễ vào quán chị là mắt chị ánh lên một nụ cười. Chỉ cười vậy thôi chứ chẳng nói gì, cũng không vồn vã chào mời. Khách tự kéo đòn ngồi, gọi rượu gọi nem, chị lẳng lặng đưa. Có lần mình đưa vợ chồng Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ vào quán thấy chị suốt buổi không nói một tiếng nào, gọi gì đưa nấy chứ tuyệt chị không một lần lên tiếng. Hai người ngạc nhiên  lắm, kéo tay mình thì thầm, nói bà này câm sao tai thính thế nhỉ? Hi hi.  Lúc đầu mình tưởng tụi con nít vô danh như tụi mình chị mới  không thèm nói. Chẳng ngờ Trịnh Công Sơn, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường vào quán chị cũng thế, Lưu Quang Vũ hồi này khét tiếng ba miền chị cũng  thế, chị chỉ có cười bằng mắt. Mãi rồi mới biết chị coi anh em văn nghệ Huế như người nhà, chẳng cần phải chào hỏi xã giao gì, vào quán tự kiếm lấy chỗ ngồi, muốn uống rượu thì tự rót, thế thôi.
Duy nhất có Văn Cao là khác. Thấy Văn Cao chống gậy  đi tới, chị hơi sững lại. Hình như chị không ngờ có ngày Văn Cao vào quán chị, thật quá hạnh phúc, mặt chị tái đi. Chị lật đật sang quán xôi hoong cạnh đấy mượn cái ghế nhựa nhỏ, cái mâm gỗ về bày ra, lật đật đỡ tay anh Văn Cao, nói mời chú ngồi đây. Anh Văn Cao nói gì, hỏi gì chị đều dạ rất to. Đôi câu anh nói chị không nghe, chị sợ không dám hỏi lại, đưa mắt cầu cứu mình, nhờ mình nhắc lại. Mình cười chỉ Văn Cao, nói chị biết ông ni là ai, răng sợ rứa. Mắt chị cười tươi, nói thuở nhỏ đến chừ chỉ mơ được gặp Văn Cao, đúng là trời thương, mơ được ước thấy. Đó là câu nói duy nhất mình nghe chị Phước nói trong vòng 6 năm ngày nào cũng ngồi quán chị.
Trước Văn Cao nhiều danh sĩ Nam Bắc cũng đã tới quán chị rồi, Trần Dần, Hữu Loan, Lê Đạt, Hoàng Cầm thì quá quen thuộc quán chị, cứ về Huế là tìm về quán chị, coi đây là một địa chỉ văn hóa của làng văn. Hôm anh Văn Cao vào Huế bị ôm phải đưa viện. Ngày ra viện anh đi một mạch từ viện Trung ướng Huế tới quán rượu chị Phước, chị Băng ( vợ anh) bảo anh đi đâu anh cũng không đi, cứ ngồi vậy cho đến lúc say.
 Sau này mỗi lần mình ra Hà Nội gặp Văn Cao, lần nào  anh cũng hỏi đúng có hai câu: anh Tường khỏe không và quán chị Phước có còn không? Anh Trịnh Công Sơn cũng vậy, anh rời Huế từ năm 1983, năm lần mình gặp anh ở Sài Gòn thì cả 5 lần anh chỉ hỏi đúng một câu, nói anh em có còn ngồi quán chị Phước không?
 Sau chia tỉnh anh em văn nghệ tản mát chín phương trời, quán chị Phước cũng không còn. Hình như vì vậy mà văn nghệ Huế dạo này nhạt hẳn, không còn đằm thắm sôi nổi như xưa nữa.
 Mình ngồi tựa gốc cây nhớ  những người đã từng say ở đây, mỗi người mỗi nét rất vui. Phùng Quán say thì nhúng râu vào rượu, Trần Dần say thì ngồi thổi chén rượu phù phù như thổi cháo nóng, Mai Văn Hoan say thì khóc, Ngô Minh say thì chạy đi đóng cửa sổ, Nguyễn trọng Tạo say thì đập chén,Trần Vàng Sao say thì hát, Trịnh Công Sơn say thì đọc thơ… trong số đó quá nửa đã về trời, nửa còn lại đã sức tàn lực kiệt, tim đập chân run, hồn xiêu phách lạc…
 Nghĩ vậy mà rưng rưng
Đồng vọng
     Đã hơn hai mươi năm rồi, hắn mới trở về quê củ. Tha hương, bươn chải kiếm miếng cơm, tấm áo giữa cuộc đời, khiến cho hình hài quê củ cứ mất dần trong nó. Hình ảnh quê hương tồn tại trong hắn chỉ là những cánh đồng trồng lúa, trồng khoai chạy dài tít tắp ra tận chân đê.
     Sau hơn một tuần lăn lóc trên quê củ, tiệc tùng với đám bạn “chăn trâu” thiếu thời ngày xưa giờ thành những kẻ tiêu tiền không biết cạn. Chiều nay, hắn từ chối cuộc nhậu thâu đêm với lũ bạn ngày xưa nghèo khó giờ thành ông này bà nọ, hắn tìm đến tôi, lôi tôi xềnh sệch: “Đi, đi tìm đồng củ của tao”. Tôi ngơ ngác: “Đồng nào, mày có bị sao không ấy?.”. Hắn nhăn nhó hồi tưởng đến tội nghiệp: “Cánh đồng mà tao với mày ngày xưa hay mò cua bắt ốc đó, cánh đồng mà tao với mày tranh nhau đi mót lúa sót đó, cánh đồng mà tao với mày đi tìm mầm khoai để đào ăn khi đói lòng đó…”.  Hắn nói một mạch như sợ quên đi những kỷ niệm xưa mà lâu nay hắn đã cất kỷ trong lòng mấy chục năm qua. Tôi nhìn hắn chua xót, lắc đầu: “Còn đâu nữa mày, thành nhà, thành phố cả rồi. Đấy cái quán sang trọng hôm mày ngồi nhậu với thằng Thọ, thằng An là cánh đồng Su đó, còn cái dãy quán cà phê tau với mày ngồi khi sáng là đồng Trụ đó. Đồng bị lấy hết rồi, chổ khu dân cư ở, chổ thì trụ sở của cơ quan công quyền, chổ thì doanh nghiệp thuê làm nhà máy, phân xưởng. Quê củ của mày làm gì có đồng có ruộng nữa…”. Tôi nói với nó, mà trong cổ họng mình nghẹn nghẹn, một nổi niềm hoài cổ trong tôi trỗi dậy từ lúc nào không biết.
      Hắn quay quắt hỏi tôi: “thế gia đình chị Bé hay để nhiều lúa sót cho mình đi mót, nhà bác Tám có khu ruộng mà mình thường hay móc dam, mò cua giờ sống thế nào rồi”. Còn thế nào nữa- Tôi gào lên trước mặt hắn- không ruộng thì chuyển nghề khác mà làm ăn chứ bó gối ngồi chết đói à!. Đó con cái bác Tám nhận tiền đền bù, không biết làm gì chi tiêu hết tiền bây giờ gia nhập vào đội quân cửu vạn bốc hàng thuê ngoài chợ kìa. Còn chị Bé thì đem tiền cho vay, lấy lãi mà ăn, giờ người ta vỡ nợ chạy làng, mất cả chì lẫn chài, chị đang khóc đứng khóc ngồi không biết lấy chi mà nuôi đàn con đang tuổi ăn tuổi học. Hắn thở dài não nề: “Sao lại bỏ ruộng, bỏ đồng rứa hả trời!”.
Tôi ngậm ngùi hoài cổ bài thơ “Sông Lấp” của Tú Xương, “Sông kia rày đã lên đồng- Chổ làm nhà cửa, chổ trồng ngô khoai   - Vẳng nghe tiếng ếch bên tai- Giật mình, còn tưởng tiếng ai gọi đò”. Mỗi câu thơ, như những lát dao cắt, cứa vào da thịt hắn một nỗi niềm đau xót, hắn đang đồng vọng về những cánh đồng của tuổi thơ hắn.  
Chiều buồn khi cánh đồng trước nhà bị lấp
Phạm Phú Thép
                    (đồng làng mai này liệu có còn không)